Sự kiện

Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam: Thay đổi mang tính đột phá

Friday, September 23, 2016          218 views

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã mở rộng cánh cửa cho sự phát triển, hội nhập của công nghiệp văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần có lời giải để đưa Chiến lược sớm đi vào cuộc sống.

Theo các chuyên gia, đổi mới thể chế đang tạo nên những thay đổi tích cực đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) Việt Nam hiện nay, song vẫn còn tồn tại không ít trở ngại cần phải tiếp tục có thêm những thay đổi mang tính đột phá hơn.

Thay đổi cách nhìn

Chiến lược đã xác lập khái niệm, cấu trúc ngành nghề và đề ra các giải pháp cụ thể nhằm phát triển một số ngành CNVH có tiềm năng, lợi thế. Cùng với các bước đổi mới thể chế, Việt Nam đang dần dần thay đổi nhận thức về vai trò của CNVH, tạo môi trường có khả năng giải phóng được sức sản xuất văn hóa, khuyến khích các phương thức kinh doanh và kênh lưu thông khác nhau trên thị trường văn hóa.

Thị trường nội địa với hơn 90 triệu dân chính là một lợi thế phát triển CNVH Việt Nam. Thị trường châu Á đang mở rộng cũng là một cơ hội lớn. Hằng năm, Nhà nước đã chi vào hoạt động văn hóa 1,8% tổng chi ngân sách. Năm 2015, vốn đầu tư cho văn hóa đạt 26,7 triệu USD, cho Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa là 12,7 triệu USD. Nhà nước cũng cho phép tư nhân tham gia vào các hoạt động thành lập hãng phim, chiếu phim, tổ chức biểu diễn, hợp tác in ấn... Với sự hỗ trợ về cơ chế chính sách này, Việt Nam đã bước đầu hình thành được thị trường văn hóa và các cơ sở hạ tầng có khả năng thúc đẩy 12 ngành CNVH phát triển. Đến cuối năm 2015, hệ thống thiết chế văn hóa cả nước (gồm các rạp chiếu phim, rạp hát, bảo tàng, trung tâm văn hóa, cửa hàng, khu vui chơi giải trí)... đang mở rộng với thành phần sở hữu đa dạng. Đây chính làthay đổi mang tính đột phá về thể chế, tạo điều kiện thuận lợi cho CNVH phát triển và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế.

Xiếc "Làng tôi", múa "Hạn hán và cơn mưa"... đã tạo được thương hiệu quốc tế, thu hút đông đảo người xem

Tạo động lực phát triển

Minh chứng cho những thay đổi của CNVH Việt Nam có thể nhìn thấy rõ qua con đường đi của hai lĩnh vực điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn.

Sau năm 1986, kinh phí làm phim bị cắt giảm do Nhà nước tiến hành chủ trương xóa bỏ bao cấp và chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đây là thời điểm các nhà làm phim tư nhân liên kết với các hãng phim nhà nước để sản xuất những bộ phim thương mại - “mỳ ăn liền” để thu hút khách. Dạng phim này và doanh thu kỉ lục của nó vào thời điểm những năm 90 của thế kỉ XX đã khiến Chính phủ điều chỉnh chính sách phát triển điện ảnh. Năm 1993, chương trình Chấn hưng điện ảnh cấp Nhà nước được phê duyệt và triển khai, nhưng thời điểm đó, điện ảnh Việt Nam bị xâm lấn thị trường bởi làn sóng phim Mỹ; phim Trung Quốc, Hàn Quốc lấn sóng truyền hình. Cho đến sự xuất hiện của Gái nhảy (đạo diễn Lê Hoàng) vào đầu thập niên 2000 mới cho thấy sự trở lại đầy nỗ lực của ngành công nghiệp điện ảnh còn non trẻ.

Nhưng dòng phim này cũng khá chật vật trong việc giành thị phần tại các rạp trong nước. Sau nhiều lần điều chỉnh chính sách và chiến lược phát triển ngành điện ảnh, Việt Nam dường như đã tìm ra những giải pháp thể chế có tác động tích cực tới sự phát triển của điện ảnh. Năm 2015 đánh dấu bước chuyển biến đột phávới mô hình Nhànước đầu tư, tư nhân sản xuất. Bộ phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã trở thành hiện tượng của năm, với hiệu ứng tạo nên một “cơn sốt” phim Việt. Năm 2015 cũng được coi là năm thị trường điện ảnhViệt Nam phát triển mạnh mẽ nhất trong thời gian gần đây. Theo thống kê của Cục Điện ảnh trong năm này, phim Việt Nam có doanh thu trung bình 780,4 nghìn USD/phim, phim nước ngoài có doanh thu trung bình 391,6 nghìn USD/phim. Sốlượng phim Việt được sản xuất vàphát hành chiếm 18% tổng sốphim phát hành trên thịtrường. Doanh thu chiếu phim Việt Nam chiếm 30%. Trong đó, doanh thu của một phim Việt Nam gấp hơn hai lần so với một phim nước ngoài: 731,3 nghìn USD/phim Việt Nam và 349,6 nghìn USD/phim nước ngoài.

Bên cạnh đó, một số chương trình nghệ thuật mới ra đời đã cho thấy tiềm năng lớn của CNVH ở loại hình nghệ thuật biểu diễn, giải trí. Nhiều sản phẩm, dịch vụ nổi bật đã hình thành, tạo được thương hiệu quốc tế như Xiếc Làng tôi, tác phẩm đương đại múa Hạn hán và cơn mưa... Gần đây, "Ionah" show với sự kết hợp giữa nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau và các công nghệ hiện đại đã tạo ra những màn biểu diễn đặc sắc, mới lạ, thu hút đông đảo người xem.

Hoạt động sản xuất, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu cũng cho thấy nhiều tiềm năng phát triển. Trung bình mỗi năm có khoảng 300 chương trình được sản xuất mới và cấp khoảng 2-4 triệu nhãn kiểm soát. Theo Cục Nghệ thuật biểu diễn, doanh thu năm 2015 của ngành ước đạt 5,2 triệu USD, tăng trưởng doanh thu ước đạt khoảng 5% mỗi năm. Cũng năm 2015 các đơn vị nghệ thuật TƯ đã biểu diễn 2.688 buổi, phục vụ 131.970.950 lượt người xem, tổng doanh thu ước đạt 5,2 triệu USD. Hoạt động của các ban, nhóm tư nhân, câu lạc bộ biểu diễn nghệ thuật cũng góp phần bảo tồn một số di sản nghệ thuật truyền thống, phát huy các nguồn lực xã hội tham gia lĩnh vực này.

Những thay đổi tích cực về thể chế chính sách, đặc biệt là các chính sách kinh tế trong văn hóa, khuyến khích sự tham gia của các thành phần sở hữu, sự đầu tư nguồn vốn trong và ngoài nước vào các ngành CNVH đã thúc đẩy thị trường CNVH Việt Nam có những bước tiến mới. Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2015, các ngành CNVH của Việt Nam đã đóng góp gần 2,68% GDP cả nước.

Còn ít dự án có chiều sâu về CNVH

Tuy nhiên cho đến nay, CNVH Việt Nam vẫn chưa có sự phát triển tương xứng với tiềm năng. Số dự án liên quan đến CNVH còn ít, chưa đủ sức thâm nhập cũng như tác động mạnh mẽđến nhận thức của những đối tượng tham gia hoạt động trên các lĩnh vực cũng như với toàn xã hội. Nhiều người còn mơ hồ về khái niệm CNVH, thậm chí coi CNVH là hiện tượng thương mại hóa văn hóa, lo ngại phát triển CNVH sẽlàm mất đi bản sắc, giá trị văn hóa Việt Nam.

Chưa kể, các ngành sản xuất, kinh doanh sản phẩm văn hóa ở Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ, chưa xuất hiện các tập đoàn lớn, các tổ hợp đa chức năng. Khối các doanh nghiệp nhà nước còn tâm lý trì trệ, trông chờ. Khối các doanh nghiệp ngoài nhà nước thiếu cơ chế, nguồn lực để phát triển. So với các nền CNVH phát triển thì CNVH Việt Nam còn đang bị bỏ lại một khoảng cách khá xa. Âm nhạc, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thời trang, các trò chơi trực tuyến ... đều còn trong tình trạng phát triển manh mún, tự phát, có những lĩnh vực thiếu vắng vai trò quản lý nhà nước.

Một vấn đề khác cần được quan tâm, thay đổi là cơ chế đầu tư tài chính đối với văn hóa ởViệt Nam luôn là một khâu tương đối lạc hậu. Sựđầu tư tài chính thường được tập trung cho các hoạt động thuộc về các đơn vị làm văn hóa, trong khi vấn đềthu hút lại bịxem nhẹ. Thực tế này đang đặt ra yêu cầu Việt Nam phải tăng lượng thu hút vốn đầu tư từ nhiều thành phần sở hữu khác nhau.

Đáng lưu ý, thị trường các sản phẩm CNVH đang tồn tại tình trạng vi phạm bản quyền, ở hầu hết các lĩnh vực như âm nhạc, điện ảnh, game online, thời trang, thiết kế... Vi phạm bản quyền khiến người sáng tạo, các nhà sản xuất ít có cơ hội thu được lợi nhuận từ việc sản xuất và phân phối sản phẩm, phá hỏng các mô hình kinh doanh và gây khó khăn cho sự phát triển các doanh nghiệp ở nhiều ngành như âm nhạc, thiết kế, thời trang... Sự yếu kém trong hệ thống luật bảo hộ khiến các sản phẩm văn hóa Việt Nam không được bảo đảm các quyền cơ bản để cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cản trở việc phát huy khả năng sáng tạo và không kiểm soát được các thiệt hại khi bị tước đoạt bản quyền, thương hiệu, các bí mật thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế. Do vậy, nếu không thực sự tạo nên những thay đổi đột phá, chúng ta sẽrất khó khăn để tạo nên các thương hiệu mạnh, mang bản sắc văn hóa Việt và tự tin bước vào cánh cửa hội nhập toàn cầu. 

 TS. Nguyễn Thị Thu Phương

GĐ Trung tâm Phát triển Công nghiệp Văn hóa, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Nguồn: http://www.baovanhoa.vn

PUBLICATIONS

Introduction of publications, books and magazines annually

About website

TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
+ Cơ quan chủ quản: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
+ Giấy phép số 91/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/07/2015
+ Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS. Từ Thị Loan.

Địa chỉ: 32 phố Hào Nam - quận Đống Đa - Hà Nội.
Điện thoại: (84-4) 38569162 - (84-4) 35111095.     Fax: (84-4) 35116415.
Email: info@vicas.org.vn
Website: http://vicas.org.vn

Ghi rõ nguồn "VICAS" khi phát hành lại thông tin từ website này.